admin

Các chất gây ô nhiễm môi trường không khí.

Lý thuyết xây dựng

Các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường chủ yếu phát sinh do quá trình đốt cháy nhiên liệu, quá trình công nghệ sản xuất, giao thông vận tải và đời sống sinh hoạt của con người. Các chất gây ô nhiễm môi trường không khí thường được phân thành hai dạng phổ biến là dạng hơi khí và dạng phân tử nhỏ (bụi nặng, bụi lơ lửng, sol khí rắn và lỏng). Đa số các chất ô nhiễm ít hoặc nhiều đều gây tác hại đối với sức khoẻ của con người. Dưới đây chỉ giới thiệu một số chất ô nhiễm chủ yếu trong môi trường không khí.

a) Cacbon monoxít (CO)
CO là một loại khí không màu, không mùi, không vị, tỉ trọng 0,967, tạo ra do sự cháy không hoàn toàn của các vật liệu có chứa cacbon. Mỗi năm sinh ra khoảng 250 triệu tấn CO, trong đó có một phần co sinh học. Khí co chiếm tỉ lệ lớn trong các chất ô nhiễm môi trường không khí, nhưng nồng độ khí co trong không khí không ổn định, biến thiên nhanh, ta chưa xác định được chính xác.
Nhiễm độc cấp CO thường bị đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, co giật, rồi bị hôn mê. Nếu bị nhiễm nặng thì bị hôn mê ngay, chân tay mềm nhũn, mặt xanh tím, bị phù phổi cấp. Nhiễm độc mãn tính co thường bị đau đầu dai dẳng, chóng mặt, mỏi mệt, sút cân.

b) Khí sulfurbxit (SOJ
Sulfur dioxit mà S02 là chủ yếu, còn sulfur trioxit (S03) cũng có trong không khí nhưng số lượng không nhiều lắm. Khí so, không màu, có vị cay, mùi khó chịu.
Khí này có nhiều ở các lò luyện gang, lò rèn, lò gia công nóng, những lò đốt than có lưu huỳnh. Trong khí quyển so,, do hiện tượng quang hoá và có xúc tác biến thành SOj. Khí SO, tác dụng với hơi nưốc biến thành axít sulíurơ.
S02 và H2S04 tác hại đến sức khoẻ con người và động vật, với nồng độ thấp gây kích thích hô hấp người và động vật. Với nồng độ cao gây ra bệnh tật và có thể bị chết.
SO, và H,S04 làm thay đổi tính năng vật liệu, thay đổi màu sắc các loại vật liệu đá, ăn mòn kim loại, giảm độ bền của sản phẩm vải lụa và đồ dùng. Đối với thực vật, so, có tác hại đến sự sinh trưởng của rau quả, làm cho cây vàng lá, rụng lá, hoặc bị chết.

c) Khí clo và hydroclorua (HCI)
Trong khí quyển khí clo và HC1 có nhiều ở vùng nhà máy hoá chất.
Khi đốt cháy than, giấy, chất dẻo và nhiên liệu rắn cũng tạo ra khí clo và HC1.
Khí clo tác dụng đoạn trên của đường hô hấp. Khí clo gây độc hại cho người và động vật. Tiếp xúc với môi trường có nồng độ clo cao sẽ bị xanh xao, vàng vọt, bệnh tật và có thể bị chết.
Khí clo và HC1 làm cho cây chậm phát triển và với nồng độ cao thì cây bị chết.

d) Hydro florua (HF)
Khi HF được sinh ra từ các từ các nhà máy Supephotphat, các lò nung gạch ngói, gốm sứ, thuỷ tinh và từ quá trình đốt than…. Hoạt động của núi lửa là nguồn tự nhiên sinh ra khí này. Khí HF gây tác hại lớn đến cây xanh, đốt cháy đầu lá, làm rụng hoa quả, quả nhỏ, lép, hạn chế sự sinh trưởng của cây. Đối với con người khí HF gây viêm da, nếu tác động lâu dài có thể gây phá huỷ cấu trúc của xương, gây bệnh về thận.

e) Hydro cacbon
Là hợp chất do hydro và cacbon hợp thành. Nó là thành phần cơ bản của khí tự nhiên, không màu, không mùi. Khí tự nhiên có chứa sulfur nên có thể có mùi. Các khí mêtan, êtylen, anilin… là thuộc loại này.
Quá trình nhiên liệu cháy không hoàn toàn, quá trình sản xuất nhà máy lọc dầu, quá trình khai thác vận chuyển xăng dầu, sự rò rỉ đường ống dẫn khí đốt…, sinh ra hvdro cacbon.
Etylen gây ra bệnh phổi cho người, làm sưng tấy mắt, có thể gây ra ung thư phổi cho động vật. Etylen làm cho lá cây vàng úa và có thể bị chết hoại.
Benzen vào cơ thể chủ yếu theo đường hô hấp, gây ra bệnh thần kinh, thiếu máu, chảy máu ở răng lợi, suy tuỷ, suy nhược, xanh xao, và dễ bị chết do nhiễm trùng máu..

f) Nitơ oxít
Trong khí quyển có nhiều loại nitơ oxít, nhưng chủ yếu là nitric oxít (NO) và nitơ dioxít (N02). NÓ hình thành do phản ứng hoá học nitơ với oxy trong khí quyển khi đốt cháy ở nhiệt độ cao, > 1100°c và nhanh chóng làm lạnh để không bị phân huỷ.
N2 + xơ2 ^ 2NOx
NO và N02 hình thành khói quang học. Nitơ oxít làm phai màu thuốc nhuộm vải, làm hỏng vải, làm han gỉ kim loại.
Một số thực vật nhạy cảm đối với môi trường sẽ bị tác hại khi nồng độ N02 khoảng 1 PPm và thời gian tác động trong khoảng 1 ngày, nếu nồng độ NCX, ít, chỉ độ 0,35 PPm thì thời gian tác động khoảng 1 tháng. Nitơ oxít (NO) ở trong không khí ít gây nguy hiểm cho con người, chỉ khi nó bị oxy hoá thành NO, thì mới gây nguy hiểm.
N02 là khí có màu hồng, ta có thê phát hiện được mùi của nó khi nồng độ > 0,12 PPm. Trong phản ứng quang hoá học nó hấp thụ bức xạ tử ngoại.
Khí NO, với nồng độ 100 PPm có thể làm chết người và động vật chỉ sau vài phút, với nồng độ 5 PPm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếp xúc, với nồng độ 15 -í- 50 PPm gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan sau vài giờ tiếp xúc, với nồng độ khoảng 0,06 PPm cũng có thể gây bệnh phổi cho người nếu tiếp xúc lâu dài. NO, là một loại khí gây nguy hại nhiều cho người.

g) Hydro sulfur ịH2S)
H2S là khí không có màu, nhưng có mùi thối khó chịu.
Trong thiên nhiên, có H,s là do chất hữu cơ, rau cỏ thối rữa, nhất là những nơi nước cạn. Nó còn sinh ra ở các vết nứt của núi lửa, ở các cống rãnh và các hầm lò khai thác than.
H2S làm rụng lá cây, giảm sự sinh trưởng cây trồng.
H2S gâv ra nhức đầu, mỏi mệt. Khi nồng độ cao thì gây ra hôn mê, có thể làm chết người.
Với nồng độ 150 PPm gây tổn thương bộ phận hô hấp.
Với nồng độ 500 PPm thời gian 15 4- 20 phút, người sẽ bị tiêu chảy và viêm cuống phổi.
Với nồng độ 700 4- 900 PPm, dù tiếp xúc trong thời gian ngắn, H2S vẫn có thể xuyên qua màng phổi và đi vào mạch máu, có thể gây chết người.

h) Khí ozôn và tầng ozôn
Trong khí quyển khí ozôn (O3) sinh ra và mất đi rất nhanh, nó tồn tại trong một vài phút. Khí 03 tập trung nhiều ở cao độ 25km so với mặt đất (tầng bình lưu).
Nó là sản phẩm của các chất chứa oxy (S02, NO, và andehyt) khi hấp thụ bức xạ tử ngoại của mặt trời.
Hấp thụ tia tử ngoại BỊ kích thích
NO2 : -> N02 — > O + NO
o + 02 —> O3

i) Chất Freon (CJiJFyCL)
Là chất làm lạnh trong các máy lạnh, máy điều hoà không khí, bình thường chúng là loại khí trơ, nhưng trong khí quyển, dưới tác dụng của tia bức xạ tử ngoại của mặt trời, nó giải thoát Clo – mỗi một nguyên tử clo phản ứng dây chuyền với 100.000 phân tử ozôn, và biến ozôn thành oxy.
Hiện nay, để bảo vệ tầng ozôn, trong các thiết bị lạnh và điều hoà không khí sử dụng các loại Freon chủ yếu là F-22, F-123, F134a,…

k) Cacbon và hiệu íữig nhà kính
Do đốt nhiên liệu, than, củi và hô hấp của động vật đã thải vào khí quyến một khối lượng lớn (CO,) cacbondioxit – Ước tính mỗi năm riêng đốt than đá đã thải vào khí quyển 2,5.1013 tấn co,. Lượng co, do núi lửa phun ra bằng 40.000 lần lượng co, có trong khí quyển hiện nay. Không phải toàn bộ lượng co, sinh ra lưu tồn mãi trong khí quyển, mà chùng độ 1/2 do thực vật và nước biển hấp thụ. Phần C02 do nước biển hấp thụ, được hoà tan và kết tủa trong biến. Các loại thực vật ở dưới biển đóng vai trò chủ yếu duy trì sự cân bằng C02 giữa khí quyển và bề mặt đại dương.

Related Posts