admin

Các vấn đề môi trường trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Việt Nam

Lý thuyết xây dựng

Môi trường suy thoái:
Có thể nói môi trường tự nhiên mà chúng ta đang sống đã và đang bị suy thoái trầm trọng. Hơn 11 triệu ha đất trống đồi trọc, việc khôi phục rừng và phủ xanh diện tích này được tiến hành còn rất chậm và hiệu quả chưa cao. Độ phì nhiêu của đất có nguy cơ suy giảm hoặc bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá. Đất nông nghiệp đang bị thu hẹp, chất lượng rừng tự nhiên thấp, có tới 70% diện tích thuộc dạng nghèo kiệt. Rừng ngập mặn, đầm phá đang bị khai thác quá mức, có nơi hầu như không còn khả năng phục hồi tái sinh. Đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển có khả năng bị suy giảm. Địa bàn cư trú của các loài động và thực vật hoang dã có nơi bị thu hẹp, chia cắt nghiêm trọng. Việc săn bắn, mua bán thịt thú rừng, chim thú sống, chim thú nhồi chưa được kiểm soát chặt chẽ nên nhiều loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang có nguy cơ tuyệt chủng. Nguồn tài nguyên gen quý hiếm của nước ta chưa được bảo vệ tốt.
Môi trường đô thị và các khu công nghiệp, nhất là ở các vùng phát triển kinh tế trọng điểm, đã bị ô nhiễm do các loại chất thải không được thu gom và xử lý kịp thời. Khí thải, nước thải, tiếng ồn, bụi cộng với cơ sở hạ tầng quá yếu kém làm cho điều kiện vệ sinh sức khoẻ ở nhiều nơi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các nhà máy, khu công nghiệp cũ đang ở trong tình trạng ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động và dân cư xung quanh. Tỷ lệ công nhân bị mắc bệnh nghề nghiệp, tai nạn giao thông, nhất là trong các ngành hoá chất, luyện kim, vật liệu xây dựng, khai thác mỏ ngày càng có chiều hướng gia tăng.
Môi trường biển và biển ven bờ đã bắt đầu bị ô nhiễm, hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh hoá, hoá chất nông nghiệp ở một sổ nơi đã vượt tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng dầu trong các vùng biển đang có xu hướng tăng lên, một số nơi đã vượt qua tiêu chuẩn cho phép.

Các vấn đề môi trường trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Việt Nam 1

Tài nguyên cạn kiệt:
Nguồn tài nguyên nước, nước mặt, nước ngầm nhiều nơi đang bị cạn kiệt dần vể số lượng, bị ô nhiễm suy giảm về chất, nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất đang có chiều hướng trở thành hiện thực của nhiều vùng.

Các vấn đề môi trường toàn cầu ngày càng tác động đến môi trường nước ta như: khí hậu thay đổi theo chiều hướng nóng lên, tầng ozôn suy giảm, mực nước biển dâng cao, ô nhiễm xuyên biên giới, xuất khẩu công nghiệp ô nhiễm, mức độ suy giảm chất lượng nước ở các dòng sông xuyên quốc gia và các thảm rừng chung biên giới, mưa axit, các cực trị về bão lũ, mưa lớn, hạn hán ngày càng gia tăng, gây ra hàng loạt ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhiều vùng. Các sự cố tràn dầu trên biển ở vùng cửa sông, các cảng, các sự cố kỹ thuật ở các cơ sở sản xuất ngày càng gia tăng, gây thiệt hại không nhỏ về người và của.
Tình trạng môi trường bị ô nhiễm và suy thái như đã nêu trên là hậu quả của cả một thời gian dài trước đây chúng ta chưa quan tâm đầu đủ đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội., trong quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp, trong quy hoạch phát triển các ngành kinh tế, trong đầu tư xây dựng các công trình cụ thể.
Các hậu quả:
Ô nhiễm môi trường không khí là một vấn đề tổng hợp, nó được xác định bằng sự biến đổi môi trưòng theo hướng không tiện nghi, bất lợi đối với cuộc sống của con người, của động thực vật, mà sự ô nhiễm đó lại chính là do hoạt động của con người gây ra với qui mô, phương thức và mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động, làm thay đổi mô hình, thành phần hoá học, tính chất vật lý và sinh học của môi trường không khí.
Dưới tác động của ô nhiễm môi trường không khí, nhiều quần thể cây xanh đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Các tác hại của ô nhiễm môi trường không khí bao gồm:
– Tác hại đối với sức khoẻ của con người và động vật sống trên mặt đất.
– Tác hại đối với thực vật.
– Tác hại đối với vật liệu.
– Tác động tới khí hậu: tăng nhiệt độ, giảm bức xạ mặt tròi và tàng độ mây
– Tác hại về mặt kinh tế.
– Tác dụng tổng hợp của một số chất ô nhiễm.
Môi trường nước: (bao gồm môi trường nước mặt và nước ngầm). Nước mặt từ các nguồn sông, suối, kênh rạch, kênh thoát nước, hồ, ao tại các khu vực đô thị và nông thôn. Các chỉ thị chính của trạng thái môi trường nước:
– Trữ lượng nguồn nước ngầm (m3/s).
– Chất lượng nước ngầm (pH, BOD, tổng coliform, chất rắn lơ lửng, tổng N, p, kim loại,…).
– Trữ lượng nước mặt (m3/s).
– Chất lượng nước mặt (pH, BOD, tổng coliform, chất rắn lơ lửng, tổng N, p, kim loại nặng Fe, Mn, As, Hg…, thuốc hoá học bảo vệ thực vật…).
Chất thải rán: Đô thị càng phát triển, lượng chất thải rắn càng lớn, tính chất độc hại của chất thải rắn càng tăng. Do tác động của sự gia tăng dân số đô thị, mức sống và tính chất tiêu dùng của người dân và tác động của phát triển kinh tế xã hội mà khối lượng chất thải rắn càng lớn. Nếu không quản lý thu gom, xử lý tốt lượng chất thải rắn này sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường. 

Related Posts