admin

Chất thải nguy hại

Lý thuyết xây dựng

Các khái niệm
Chất thải nguy hại (Theo quy chế quản lý chất thải nguy /lại): Là chất thải có chứa các chất hoặc các hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
Thu gom chất thải nguy hại: Thu gom, phân loại và đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại tại các địa điểm hoặc cơ sở được chấp thuận;
Lưu giữ chất thải nguy hại: Lưu và bảo quản chất thải nguy hại (CTNH) trong một khoảng thời gian nhất định với điếu kiện cần thiết, đảm bảo không rò rỉ, phát tán, thất thoát ra môi trường cho đến khi CTNH được vận chuyển đến các địa điểm hoặc cơ sở xử lý, tiêu huỷ được chấp thuận;
Vận chuyển chất thải nguy hại: Là quá trình chuyên chở CTNH từ nơi phát sinh tới nơi lưu giữ, xử lý, tiêu huỷ.
Xỉ( lý chất thải nguy hại: là quá trình sử dụng công nghệ hoặc biện pháp kỹ thuật (kể cả việc thu hồi, tái chế, tái sử dụng) làm thay đổi các tính chất và thành phần của chất thải nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
Tiêu huỷ chất thải nguy hại: là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn lấp) CTNH, làm mất khả năng gây nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.
6.2.2. Các đặc tính cua chất thải nguy hại
Các đặc tính chính của CTNH: Cháy, nổ, ăn mòn, hoạt tính độc hại, tích đọng sinh học, bền vững trong môi trường (trơ) phá huỷ cân bằng hệ sinh thái của môi trường và tác động rộng lớn lâu dài đến con người: gây ung thư, gây viêm nhiễm, gây quái thai, bệnh thần kinh…
a) Các hệ thống phân loại chất thải nguy hại
Thực tế có rất nhiều thành phần, vật chất được coi là CTNH. Do đó có thê phân loại CTNH theo nhiều cách như: theo nguồn gốc, theo mức độ độc hại, theo cách quản lý, theo tính chất, theo độ bền vững… Tuỳ thuộc vào luật lệ, quy định, điều kiện kinh tế xã hội của từng nước mà có các hệ thống phân loại khác nhau:
– Hệ thống phân loại theo nguồn chung.
– Hệ thống phân loại theo quá trình của nguồn thải.
– Hệ thống phân loại theo đặc trưng (vật lý).
– Hệ thống phân loại theo đặc trưng tính chất.
b) Khảo sát chất thải nguy hại
– Khảo sát thực địa.
– Thu thập thông tin.
Với mỗi loại chất thái phải xác định những đặc thù sau:
– Mô tả đúng chủng loại
– Trạng thái (rắn, lỏng, nhão)
– Thành phần chủ yếu (liên quan đến vật liệu đầu vào của quá trình)
– Tỷ lệ các hợp phần nếu có thể
– Tần suất phát sinh
– Lượng phát sinh mỗi chu kỳ
Ngoài ra còn quản lý thu thập thông tin với mỗi loại chất thải như:
– Chất thải được lưu giữ thế nào, ở đâu ?
– Có được sử dụng, xử lý hay chôn lấp trong công ty không nếu có thì ở đâu và như thế nào? Nếu không ai thu gom, bao lâu thì thu gom?
– Lượng thu gom mỗi lần và như thế nào?
– Chở đi đâu?
c) Lưu giữ chất thải nguy hại tại các cơ sở công nghiệp
Việc lưu giữ chất thải nguy hại trong các cơ sờ công nghiệp phải được áp dụng ngay từ khâu đầu phát sinh ra rác thải. Tại khu vực XNCN phải bố trí khu lưu giữ CTNH riêng biệt. Cần có được cải thiện nhiều để sao cho CTNH phải được lưu giữ an toàn không gây ra những hủy hoại môi trường trong khi chờ được thu hồi, tái sử dụng, tái chế, xử lý hay chôn lấp hợp lý hơn.
Đối với một số chất thải trơ nguy hại như là amiăng, chôn lấp hợp vệ sinh có thể là phương pháp xử lý chất thải thực tiễn nhất, nhưng cần phải ngăn ngừa sợi amiăng khuyếch tán vào không khí hay nước. Tuy nhiên, có thể thấy là những chất thải này được che phủ rất hạn chế, và do đó trong mùa khô, khả năng bụi amiăng do gió thổi có thê gây ra những mối nguy hại đáng kể liên quan đến sức khoẻ.
Các thùng lưu chứa thường phải được hàn kín và có dán nhãn mác (hình 4). Việc rò rỉ các kim loại nặng từ việc lưu giữ lâu dài các xỉ kim loại đã tạo ra một số tác động đối với các lưu vực xung quanh, xỉ kim loại cũng được sử dụng như là nguyên liệu để làm đường do đó có thể dẫn đến việc rò rỉ các kim loại nặng vào vùng nước mặt hoặc nước ngầm. Sự rò rỉ kim loại nặng vào nước mặt và nước ngầm có thể gây nên những tác động đáng chú ý đối với các nguồn nước uống.
d) Vận chuyển chất thải nguy hại
Hiện nay ở Việt Nam việc chuyên chở những vật liệu nguy hại đang còn sơ khai. Vật liệu nguy hại được những nhà cung cấp chuyên chở bằng tầu hoả hay ô tô chuyên dụng.
e) Xử lý và tiêu huỷ chất thải nguy hại
Nguyên tắc chung để xử lý chất thải nguy hại:
– Giảm lượng và độ độc của chất thải nguy hại tại nguồn thải;
– Xử lý chất thải:
• Tách các chất thải nguy hại
• Biến đổi hóa tính, sinh học nhằm phá huỷ các chất thải nguy hại hoặc biến thành các chất ít nguy hại hơn hoặc không gây nguy hại.
– Thải bỏ các chất thải nguy hại theo đúng kỹ thuật đé không gây tác hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Chất thải nguy hại có thể xử lý bằng các phương pháp vật lý, hoá học, nhiệt học và sinh học.
Phương pháp cơ học: Xử lý cơ học thông thường được dùng để xử lý sơ bộ chất thải trước khi xử lý bàng phương pháp xử lý hoá lý hay xử lý nhiệt.
Thí dụ, chất thải cyanua rắn cần phải được đập thành những hạt nhỏ trước khi được hòa tan để xử lý hóa học. Tương tự chất thải hữu cơ dạng rắn phải được băm và nghiền nhỏ và cuối cùng được trộn với những chất thải hữu cơ khác trước khi đốt.
Quá trình sau là rất quan trọng để có thế đốt có hiệu quả bởi vì chất thải đuợc bơm vào lò đốt phải thoả mãn những đặc trưng riêng cho một quá trình cháy hoàn toàn.
Phương pháp hoá lý: Tách chất thải nguy hại từ pha này sang pha khác, hoặc để tách pha nhằm giảm thể tích dòng thải chứa chất thải nguy hại. Xử lý hóa lý là phương pháp thông dụng nhất để xử lý các chất thải vô cơ nguy hại.

Chất thải nguy hại 1

Bảng 6.3. Những quá trình xử lý hóa/lý phổ biến

Các quá trình xử lý hóa/lý đơn giản và có giá thành khá thấp. Chúng có thê được tiến hành tại nguồn như là một giải pháp xử lý cuối đường ống hoặc là như một phần trong hệ thống xử lý đồng bộ CTNH.
Phương pháp hoá học: Biến đổi hoá học các chất thải nguy hại thành chất không độc hại hoặc ít nguy hại
Phương pháp thiêu đốt: Đốt chất thải là một quá trình ôxy hoá chất thải bằng ôxy của không khí ở nhiệt độ cao. Phương pháp thiêu đốt được ứng dụng khi:
– Chất thải là chất độc sinh học
– Không bị phân huỷ sinh học và bền vững trong môi trường
– Là chất bốc hơi và dễ phân tán
– Khó xử lý trong môi trưọrng đất
– Chứa các chất hữu cơ: halogen, chì, thuỷ ngân, kẽm, nitơ, photpho và sunfua.
Các chất thải nguy hại có thể xử lý băng phương pháp đốt là các dung môi hữu cơ, dầu thải và các chất chứa dầu, plastic, cao su, sơn, chất hữu cơ chứa lưu huỳnh, phot pho, nitơ và halogen, thuốc trừ sâu… Nhiệt độ thích hợp để phân huỷ các chất thải từ 1100 – 1300°c. Sản phẩm của quá trình đốt là khói lò có chứa bụi, các ô xít kim loại nặng và các khí a xít vì vậy phải xử lý trước khi xả ra môi trường không khí xung quanh.
Các chất thải không nên xử lý bằng phương pháp đốt: chất thải phóng xạ, chất thải dễ nổ. Chất thải có chứa chất độc bay hơi (Hg, As) cũng không được phép đốt vì gây ô nhiễm không khí.
Chất thải hữu cơ nguy hại có thể xử lý hoặc là trong những lò đốt rác thải nguy hại chuyên dụng hoặc được phân huỷ trong những quá trình công nghiệp nhiệt độ cao. Ví dụ về quá trình này là việc sử dụng lò xi măng quay. Nói chung chất thải được xử lý bằng quá trình đốt thông qua sự nhiệt phân đã từng được sử dụng đối với một số dạng chất thái cụ thể.

Related Posts