admin

Luật bảo vệ môi trường và khung pháp lý để bảo vệ môi trường phát triển bển vững

Lý thuyết xây dựng

Luật môi trường là văn bản pháp lý quan trọng nhất của quốc gia trong công tác quản lý môi trường. Mỗi quốc gia đều có những cách riêng để hình thành luật môi trường của mình. Ở nhiều nước có các luật môi trường riêng cho từng thành phần môi trường. Ví dụ ở Mỹ ban hành việc kiểm soát ô nhiễm nước, không khí, luật nước sạch, không khí sạch, nước an toàn… Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, luật môi trường chỉ đưa ra các quy định chung dưới dạng khung pháp lý cho các quy định dưới luật của các ngành chức năng. Các bộ luật môi trường quốc gia cũng thường xuyên được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.
Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của nước ta được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố ngày 10/1/1994. Luật này cụ thể hoá Điều 29 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 trong việc quản lý nhà nước về môi trường; giao trách nhiệm cho chính quyền các cấp, các cơ quan và mọi công dân trong việc bảo vệ môi trường, tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ môi trường; là cơ sở pháp lý để điểu chỉnh các hoạt động, các hành vi của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn xã hội.
Luật Bảo vệ môi trường lựa chọn và xác định những nguyên tắc chính của hoạt động bảo vệ môi trường, biến chúng thành các quy định của Luật như những sợi chỉ xuyên suốt các điều. Một số nguyên tắc chính của Luật Bảo vệ môi trường như sau:
– Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của từng người;
– Phòng ngừa ô nhiễm là chính;
– Người nào gây ô nhiễm, người đó phải trả giá;
Về cấu trúc, Luật bảo vệ môi trường được trình bày theo 3 trục đối tượng:
– Suy thoái môi trường
– Ồ nhiễm môi trường
– Sự cố môi trường
Tính đến năm 2005, qua hom 10 năm thực hiện, Luật Bảo vệ môi trường đã góp phần phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước đối với lĩnh vực môi trường, tạo tiền đề cho việc kết hợp giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Luật Bảo vệ môi trường cũng bộc lộ những tồn tại, bất cập. Sự phát triển công nghiệp, dịch vụ cùng với quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng tạo sức ép nặng nề lên môi trường. Trước bối cảnh đó, ngày 15 tháng 11 năm 2004 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX đã có Nghị quyết số 41-NQ-TVV về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường hiện hành đang được sửa đổi lại đê kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ Đảng và Nhà nước đề ra trong thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11. Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường phải tuân theo nguyên tắc: Gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bển vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính, kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường; bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa lịch sử, trình độ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Luật bảo vệ môi trường và khung pháp lý để bảo vệ môi trường phát triển bển vững 1

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 gồm 10 chương với 136 điều. Ngoài các chương I là Quy định chung và chương II là Tiêu chuẩn môi trường, cơ cấu nội dung của Luật như sau:
– Chương III: Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, có 3 mục, 14 điều. Nội dung các mục như sau:
Mục 1: Đánh giá môi trường chiến lược, quy định về: Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; lập báo cáo môi trường chiến lược; nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và quy định về thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.
Mục 2: Đánh giá tác động môi trường, quy định về: Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và quy định về trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Mục 3: Cam kết bảo vệ môi trường quy định về: Đối tượng phải có bản cam kết bảo vệ môi trường; nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường; đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường và quy định về trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.
– Chương IV: Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều quy định về: Điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường và quy định về Xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường.
– Chương V: Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, có 15 điều quy định về: Trách nhiệm bảo vệ môi trương của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; bảo vệ môi trường đối với khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ; bảo vệ môi trường đối với làng nghề; bảo vệ môi trường đối với bệnh viện, cơ sở y tế khác; bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng; bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông vận tải; bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu; bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch; bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp; bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng và quy định về xử lý cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường.
– Chương VI: Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư có 5 điểu, quy định về: Quy hoạch bảo vệ môi trường dô thị, khu dân cư tập trung; bảo vệ môi trường nơi công cộng; yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình và quy định vể tổ chức tự quản bảo vệ môi trường.
– Chương VII: Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác, có 3 mục,
11 điều, cơ cấu nội dung các mục như sau:
Mục 1: Bảo vệ môi trường biển, quy định về: Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển; bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển và quy định tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển.
Mục 2: Bảo vệ môi trường nước sông, quy định về: Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông; trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông, quy định về tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông.
Mục 3: Bảo vệ môi trường các nguồn nước khác, quy định về: Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch; bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thủy điện và quy định về bảo vệ môi trường nước dưới đất.
– Chương VIII: Quản lý chất thải, có 5 mục , 20 điều, cơ cấu nội dung các mục như sau:
Mục 1: Quy định chung về quản lý chất thải, quy định về: Trách nhiệm quản lý chất
thải; thu hồi, xử lý sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ; tái chế chất thải và quy dịnh về trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải.
Mục 2: Quản lý chất thải nguy hại, quy định về: Lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại; phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại; vận chuyển chất thải nguy hại; xử lý chất thải nguy hại; cơ sở xử lý chất thải nguy hại; khu chôn lấp chất thải nguy hại và quy định về quy hoạch về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại.
Mục 3: Quản lý chất thải rắn thông thường, quy định về: Phân loại chất thải rắn thông thường; thu gom, vận chuyển chất thải rắn thông thường; cơ sở tái chế, tiêu hủy, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường và quy định vể quy hoạch thu gom, tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường.
Mục 4: Quản lý nước thải, quy định về: Thu gom, xử lý nước thải; hệ thống xử lý nước thải.
Mục 5: Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ, quy định về: Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải; quản lý khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn và quy định về hạn chế tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ,…
– Chương IX: Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường, có 2 mục 8 điều, cơ cấu nội dung như sau:
Mục 1: Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, quy định về: Phòng ngừa sự cố môi trường; an toàn sinh học; an toàn hóa chất; an toàn hạt nhân và an toàn bức xạ; ứng phó sự cố môi trường và quy định về xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường.
Mục 2: Khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường, quy định về: Căn cứ để xác dinh khu vực môi trường bị ô nhiễm và quv định về khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.
– Chương X: Quan trắc và thông tin về môi trường, có 12 điều, quy định về: Quan trắc mỏi trường; hệ thống quan trắc môi trường; quy hoạch hệ thống quan trắc môi
trường; chương trình quan trắc môi trưòng; chỉ thị môi trường; báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh; báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực; báo cáo môi trường quốc gia; thống kê, lưu trữ dữ liệu, thông tin về môi trường; công bố và cung cấp thông tin về môi trường; công khai thông tin, dữ liệu về môi trường và quy định về thực hiện dân chủ cơ sở về bảo vệ môi trường.
– Chương XI: Nguồn lực bảo vệ môi trường có 12 điều, quy định về: Tuyên truyền vế bảo vệ môi trường; giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; phát triển khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; phát triển công nghiệp môi trường, xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo về môi trường; nguồn tài chính bảo vệ môi trường; ngân sách nhà nước về bảo vệ môi trường; thuế môi trường; phí bảo vệ môi trường; ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên; quỹ bảo vệ môi trường; phát triển dịch vụ bảo vệ môi trường và quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.
– Chương XII: Gồm 3 điều nêu lên vấn đề quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó khẳng định việc nước ta thực hiện các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường mà đã tham gia ký kết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa.
– Chương XIII: Trách nhiệm các cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể về bảo vệ môi trường, có 4 điều.
– Chương XIV: Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại về môi trường, có 2 mục 10 điều.
– Chương XV: Điều khoản thi hành có 2 điều.
Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường được xây dựng trên cơ sở các điều 29 và điểu 8 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định quyền con người được sống trong môi trường trong lành, xác định nội dung và hình thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của Nhà nước, xem đó là chức năng cơ bản và thường xuyên của Nhà nước, xác định trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

Related Posts