admin

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường đất

Lý thuyết xây dựng

a) Nguồn gốc ô nhiễm môi trường”>ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm hàm lượng các chất tự nhiên trong đất tăng lên, hoặc thêm các độc chất lạ (đến mức vượt tiêu chuẩn cho phép), gây độc hại cho môi trường, sinh vật và làm xấu cảnh quan.
Như ta biết, đất là tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất trong sản xuất nông-lâm nghiệp. Ngoài ra đất được dùng làm nơi ở, đường giao thông, kho tàng, mặt bằng sản xuất công nghiệp… Khi dân số tăng nhanh, đặc biệt là thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, nền văn minh phát triển cao, con người tìm mọi cách tăng cường mức sản xuất và tăng cường khai thác độ phì của đất như:
– Tăng cường sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
– Sử dụng chất kích thích sinh trưởng cây trồng.
– Sử dụng công cụ và kỹ thuật hiện đại.
– Mở rộng mạng lưới tưới tiêu.
Tất cả các biện pháp này tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái và môi trường đất, đó là:
– Làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng thuốc trừ sâu.
– Làm ô nhiễm môi trường đất do sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu.
– Làm mất cân bằmg dinh dưỡng.
– Làm xói mòn và thoái hoá đất.
– Phá huỷ cấu trúc đất và các tổ chức sinh học của đất do sử dụng máy móc nặng.
– Mặn hoá, phèn chua do tưới tiêu không hợp lý.
b) Phân loại ô nhiễm đất:
Có thể phàn loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh và theo các tác nhân gây ô nhiễm:
– Theo nguồn gốc phát sinh:
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
• Ô nhiễm đất do tác động của sinh hoạt dàn cư.
– Phân loại theo các tác nhân gây ô nhiễm:
• Ô nhiễm do tác nhân hoá học.
• Ônhiễm do tác nhân sinh học.
• Ô nhiễm do tác nhân vật lý.
Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp
Các hoạt động công nghiệp xả vào đất một lượng lớn các phế thải của chúng. Các lượng phế thải đó, nguy hiểm nhất là các chất thải nguy hại, được thông qua khí thải, nước thải và rác thải hoặc thải trực tiếp xuống đất. Chúng làm ô nhiễm môi trường đất, phá huỷ sự cân bằng của hệ sinh thái đất.

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường đất 1

Quá trình khai khoáng gày ô nhiễm và suy thoái môi trường đất ở mức nghiêm trọng nhất. Do khai thác, một lượng lớn phế thải, quặng… từ lòng đất được đưa lên trên bề mặt. Mặt khác thảm thực vật trong khu vực khai khoáng bị huý diệt, đất có thể bị xói mòn. Tiếp theo là một lượng lớn phế thải, xí quặng theo khói bụi bay vào không khí rồi lại lắng đọng xuống đất và làm nhiễm bẩn đất trong một phạm vi lớn.
Các chất thải này thường xuyên chứa những sản phqm độc hại ở dạng dung dịch và dạng rắn. Khoảng 50% chất thải công nghiệp là dạng rắn (than, bụi, chất hữu cơ xí quặng…) và trong đó 15% có khả năng gây độc nguy hiểm. Độ pH của đất giảm do mưa axít và chất thải công nghiệp. Tương ứng sự giảm đi 50% độ no bazơ nghĩa là 1/2 cation bazơ đã được thay thê bằng H+ và Al3+ (theo TAMM 1988, ANDERSON 1988).
Điều đáng lo ngại là các phế thải công nghiệp thường làm ô nhiễm đất bởi các hoá chất và kim loại nặng. Phênol là vật thải của công nghiệp dệt, luyện kim đen, luyện than cốc – khi thấm vào đất, vào nước thì làm cho đất, nước có mùi đặc biệt, nguy hiểm là khi phênol kết hợp với clo ở những đất bị nhiễm mặn sẽ tạo thành clorôphênol rất độc, có mùi buồn nôn, gây ung thư. Hàm lượng phênol từ 25-30mg// nước đất gây độc cho cây và chết động vật đất. Các nguyên tố kim loại nặng (Cu, Zn, Pb, Hg, Cr, Cd,…) thường chứa trong phế thải của ngành luyện kim mầu, sản xuất ôtô… Nước thải chứa kim loại nặng cuối cùng làm ô nhiễm đất.
Các loại phế thải rắn công nghiệp được tạo nên từ hầu hết các khâu công nghệ sản xuất và từ trong các quá trình sử dụng sản phẩm. Các loại phế thải này dược tập trung tại các cơ sở sản xuất hoặc vận chuyển khỏi khu vực, rồi bằng cách này hay cách khác và cuối cùng cũng trở về với môi trường đất. Theo các đặc tính lý hoá, các phế thải rắn công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đất này được chia làm bốn nhóm như sau:
– Phế thải vô cơ từ các cơ sở công nghiệp như: mạ điện, thuỷ tinh, công nghiệp giấy, cặn xỉ ở các trạm xử lý nước…
– Phế thải khó phàn huỷ như dầu mỡ, ni lông, sợi nhân tạo, phế thải từ công nghiệp da, cao su…
– Phế thải dễ cháy từ các nhà máy lọc dầu, sửa chữa ôtô-xe máy, sản xuất máy lạnh, thực phẩm…
– Phế thải độc hại: các phế thải tác động mạnh, phế thải có chứa đồng vị phóng xạ…
Đặc điểm của phế thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đất là đa dạng về thành
phần và kích thước, không tập trung và đa nguồn gốc, vì vậy việc lựa chọn phương pháp xử lý chúng cũng rất phức tạp.
o nhiễm đất là hậu quả của ô nhiễm khí quyển và mưa axit
Mưa axít và ô nhiễm môi trường đất.
Bình thường nước mưa có độ pH khoảng 5,6 do sự có mặt của co, tạo thành H1CO3 trong khí quyển. Trong phân định thực tế, các cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (ERA) đã sử dụng tiêu chuẩn nước mưa có độ pH nằm trong giới hạn từ 5 đến 6,5 là nước mưa trung tính. Nước mưa có độ pH nhỏ hơn 5 là mưa axít. Tuy nhiên tổ chức Y tế thế giới (WHO) qui định mưa axit là mưa có dộ pH nhỏ hơn 5,5. Ớ Việt Nam đang áp
dụng tiêu chuẩn này trong khảo sát và đánh giá mưa axit trên toàn quốc. Trong khí quyển có hai chất ô nhiễm chủ yếu gây mưa axit là SO: và NO:. Các tác hại của mưa axit đối với môi trường đất được thống kê như sau:
– Mưa axit làm chua các hồ nước. Ở Canada có hơn 4.000 hồ nước bị axit hoá, khiến các sinh vật trong hồ chết hết. Hồ biến thành hồ chết và làm ỏ nhiễm môi trường đất.
– Mưa axit hoà tan các khoáng ít tan trong đất, đẩy nhanh quá trình phong hoá khoáng, tăng nhanh tổng số muối tan trong đất, làm cho đất mặn hoá.
– Mưa axit rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ trong đất, làm cho đất trở nên chua dần, không thích hợp cho các hoạt động của các vi sinh vật hữu ích. Các cation kiềm rửa trôi làm cho độ bão hoà bazơ của đất ngày càng giảm xuống, đất mất dần độ phì nhiêu. Nếu độ bão hoà bazơ xuống quá thấp, khoáng sét sẽ bị phá huỷ. Cation kiềm tiếp tục bị rửa trôi, môi trường quá chua, khoáng sét biến thành hydroxit và Si02 thứ sinh. Đất thật sự mất khả năng sản xuất.
– Đất có hàm lượng tổng kim loại nặng cao, do bản thân đất hay do đất đã bị ô nhiễm, nhưng vì gặp điều kiện môi trường kiềm, các kim loại nặng trở nên không linh động nên không phát tác được, nên chưa gây tác động tiêu cực đến cây cối và con người. Gặp mưa axit, đất chua đi, các kim loại nặng trở nên linh động hơn, và chúng tác động xấu đến môi trường.
Hoạt động công nông nghiệp làm cho không khí bị ô nhiễm S02, NOx, HC1, HF… Quá trình yếm khí trong đất ngập nước là điều kiện để hình thành H2S – khí này bay vào không trung rồi cũng bị oxy hóa thành H2S04. Tan trong nước mưa, tất cả các khí đó làm chua nước mưa và cũng làm chua đất.
Các loại axit đổ xuống đất làm đất chua, làm ảnh hưởng tới sự cân bằng của đất.
Nãm 1956 trong khi đại bộ phận bán đảo Scandinaver hầu như trung tính thì miền đông nước Anh, Hà Lan và Bỉ độ pH < 5,0. Năm 1959 tình hình đã thay đối, vùng có độ pH < 5,0 đã toả rộng theo hướng Đông Bắc châu Âu. Vùng bán đảo Scandinaver độ pH đã xuống khoảng 5,5 đến 6,0. Miền Bắc nước Đức, Hà Lan, Bỉ đã xuất hiện vùng độ pH dưới 4,5. Đến năm 1961 trung tâm đất chua lại mở rộng đáng kê. Từ năm 1961 mưa hàng năm ở trung tâm đã có độ pH xuống dưới 4, có thời gian xuống đến 3. Ớ Thuỵ Điển có lúc độ pH nước mưa hạ xuống đến 2,8. Đến năm 1966 phía Tây Nam và miền Trung Thuỵ Điển và Na Uy độ chua của đất tăng lên. Trong thời gian 1965 – 1970 nước hồ và sông của Thuỵ Điển có độ pH giảm, nhất là ở miền Nam và ở miền Trung.

Ô nhiễm đất là hậu quả của ô nhiễm nước
Nông dân lấy nước thải tưới cho đồng ruộng. Nếu không điều tra chất lượng nước, có thể làm cho đất bị ô nhiễm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây. Tưới nước có độ mặn cao làm cho đất bị mặn hoá.

Ô nhiễm đất do sinh hoạt của con người
Hàng ngày, từ sinh hoạt, con người ta thải vào môi trường đất một lượng đáng kể chất thải rắn và chất thải lỏng, về chất thải lỏng: trung bình người dân đô thị ở các thành phố lớn của Việt Nam mỗi ngày sử dụng một lượng nước cấp khoảng 100-15Ơ lít, và cũng thải ra môi trường một lượng nước thải như vậy, trong đấy có chứa bao nhiêu là chất độc hại. Những chất độc hại đấy đọng lại nhiều nhất trong môi trường nước và đất. về chất thải rắn: trung bình mỗi người mỗi ngày thái ra một lượng chất thải rắn từ 0,4 đến 1,8 kg/người.ngđêm, khối lượng này tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đô thị, từng lứa tuổi… Lượng phân này xả vào môi trường theo hệ thống thoát nước. Trong đó có chứa nhiều chất ô nhiễm, ví dụ hàm lượng chất lơ lửng là 65-100 g/người.ngđêm… Trong rác và phế thái rắn sinh hoạt có phế thải thực phẩm, lá cây, vật liệu xây dựng, các loại bao bì, phân người và súc vật.v.v… Trong các loại phế thải sinh hoạt này hàm lượng chất hữu cơ lớn, độ ẩm cao. Nếu không xử lý tốt thì chúng vẫn được tồn lưu trong môi trường nước và đất, và đó là môi trường cho các loài vi khuẩn, trong đó có nhiều loại vi khuẩn gày bệnh phát triển.

Related Posts