admin

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước

Lý thuyết xây dựng

 Nguồn gốc ô nhiễm nước
a) Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước đã được sử dụng cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt, tắm rửa, vệ sinh nhà cửa,… của các khu dân cư, công trình công cộng, cơ sở dịch vụ,.. Như vậy, nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người. Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường học, nhà ăn…cũng tạo ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự như nước thải sinh hoạt.
Lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư được xác định trên cơ sở nước cấp. Tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt của các khu dân cư đô thị thường là từ 100 đến 250 //người.ngày (đối với các nước đang phát triển) và từ 150 đến 500 //người.ngày. Tiêu chuẩn cấp nước các đô thị nước ta hiện nay dao động từ 120 đến 180 //người.ngày. Đối với khư vực nông thôn, tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt từ 50 đến 200 //người.ngày. Tiêu chuẩn nước thải phụ thuộc vào tiêu chuẩn cấp nước. Thông thường tiêu chuẩn nước thải sinh hoạt lấy bằng 90 đến 100% tiêu chuẩn cấp nước cho mục đích này. Ngoài ra, lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư còn phụ thuộc vào điều kiện trang thiết bị vệ sinh nhà ở, đặc điểm khí hậu thời tiết và tập quán sinh hoạt của nhân dân.
Lượng nước thải sinh hoạt tại các cơ sở dịch vụ, công trình công cộng phụ thuộc vào loại công trình, chức nãng, số người tham gia, phục vụ trong đó. Tiêu chuẩn thải nước của một số loại cơ sở dịch vụ và công trình công cộng này được nêu trong bảng 4.1.
Bảng 4.1. Tiêu chuẩn thải nước của một sô cơ sở dịch vụ và còng trình công cộng

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

* Tiêu chuẩn theo nghiên cứu của đề tài B96-16-6D-37

Lượng nước thải tập trung của đô thị rất lớn. Lượng nước thải của thành phố 20 vạn dân khoảng 40 đến 60 nghìn m3/ngày. Tổng lượng nước thải thành phố Hà Nội hiện nay (năm 2005) gần 600.000 nghìn m3/ngày. Trong quá trình sinh hoạt, con người xả vào hệ thống thoát nước một lượng chất bẩn nhất định, phần lớn là các loại cặn, chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng. Ở nước ta Tiêu chuẩn TCVN 7957:2008 quy định về lượng chất bẩn tính cho một người dân xả vào hệ thống thoát nước trong một ngày theo bảng 4.2 sau đây.
Bảng 4.2. Lượng chất bẩn của một người trong một ngày xả vào hệ thống thoát nước
(theo quy định của TCVN 7957:2008)

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

b) Nước thái công nghiệp
Trong sản xuất công nghiệp, nước được sử dụng như nguyên liệu, phương tiện sản xuất. Nước còn được dùng để giải nhiệt, làm nguội thiết bị, làm sạch bụi và khí độc hại. Ngoài ra được sử dụng để vệ sinh công nghiệp, cho nhu cầu tắm rửa, ăn ca… của công nhan. Nhu cầu vể cấp nước và lượng nước thải sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình, công nghệ sản xuất, loại và thành phần nguyên vật liệu, sản phẩm, công suất nhà máy, đặc điếm hệ thống cấp nước… Nhu cầu cấp nước của một số ngành sản xuất được nêu trong bảng 4.4.
Bảng 4.4. Nhu cầu cấp nước và lưu lượng nước thải trong một số ngành cồng nghiệp

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

Bảng 4.5. Các chất ô nhiễm điển hình trong nước thải một sô ngành công nghiệp

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

c) Nước mưa chảy tràn
Nước mưa từ các khu dân cư, đô thị và khu công nghiệp cuốn trôi các chất bẩn trên bề mặt và khi chảy vào sông, hồ sẽ gây nhiễm bẩn thuỷ vực. Lưu lượng nước mưa lớn nhất chảy tràn từ một lưu vực lớn đổ vào sông, hồ có thể xác định theo công thức thực nghiệm được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu như sau:


Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

d) Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tiêu thụ một lượng nước rất lớn. Nước sử dụng chủ vếu là tưới tiêu (yêu cầu lượng nước trồng lúa là 20mm/ngày), còn lại là thất thoát do bay hơi và thấm. Các loại nước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp có thê chảy tràn ra sông hồ, gây ô nhiễm nguồn nước. Thành phần muối khoáng trong nước tưới tiêu phụ thuộc đặc điểm thổ nhưỡng, cấu tạo hệ thống thuỷ nông,… Lượng muối này có thể trôi vào nước từ 1 đến 20 tấn/ha.năm. Với việc sử dụng các loại phân hoá học, lượng lớn muối nitơ, phốtpho, kali… xâm nhập vào nguồn nước, gây hiện tượng phú dưỡng (eutrophication).
Để thâm canh cây trồng, phòng chống sâu và cỏ dại, người ta thường sử dụng các loại hoá chất bảo vệ thực vật (phần lớn là dẫn xuất của clo như DDT, Chlordane,…) với một
lượng tương đối lớn. Thông thường cho một ha lúa cao sản lượng hoá chất thường dùng là 2-3 kg thuốc trừ sâu/vụ và 70-120 kg phân hoá học/vụ. Các chất hữu cơ bền vững sẽ tích tụ lâu dài trong các thành phần sinh vật và trong môi trường nước.
Nước thải các chuồng trại chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ cao, lượng nitơ, phốt pho lớn và nhiều vi khuẩn gây bệnh. Đây cũng là một nguồn gây ô nhiễm đáng kể đối với các thuỷ vực vùng nông thôn.
e) Các hoạt động kinh tê’xã hội khác
Sự phát triển kinh tế, tập trung dân cư, đô thị hoá…là những áp lực đối với môi trường nước. Giao thông đường thuỷ là một hình thức vận tải rẻ tiền. Tác động bất lợi của vận tải thuỷ đối với nguồn nước là khả năng gây ô nhiễm do các chất thải như dầu, mỡ. Trong quá trình hoạt động tại bến cảng hay trên luồng, lạch, vô tình hay hữu ý, người ta đã xả các chất thải như rác, nước thải, dầu mỡ, nước dằn,… ra sông, biển. Khi bị sự cố, các hàng hoá do tàu thuyền vận chuyển đổ ra nước. Sự cố tràn dầu, đổ hoá chất… là những mối nguy hại lớn đối với các hệ sinh thái nước.

Nguồn gốc và tác nhân ô nhiễm môi trường nước 1

Hình 4.1: Tác động tiêu cực tới môi trường của hoạt động giao thông đường thuỷ

 

 

 

Related Posts