admin

Qúa trình gây ô nhiễm nguồn nước

Lý thuyết xây dựng

 Quá trình ô nhiễm nước mặt
Khi xả nước thải sinh hoạt xử lý chưa đạt yêu cầu vào sông hồ, nguồn nước có thể bị ô nhiễm,…. Quá trình ô nhiễm này được phân thành hai loại: ô nhiễm thường xuyên và ô nhiễm không thường xuyên.
Ô nhiễm thường xuyên là quá trình ô nhiễm với tải lượng và thành phần tác nhân ô nhiễm (chất bẩn) ổn định. Nguồn ô nhiễm thường xuyên có thể là nguồn điểm (nguồn xác định), xác định được vị trí, kích thước, bản chất, lưu lượng thải,… như là cống thoát nước thành phố, trạm bơm tiêu nước,… hoặc nguồn không có điểm (nguồn không xác định), không xác định được vị trí, kích thước, lưu lượng thải,… như nước mưa chảy tràn qua đồng ruộng, tàu thuyền đi lại trên sông,…
a) Lắng cặn khu vực miệng xả
Cặn lắng chứa phần lớn là chất hữu cơ nên dễ bị ôxy hoá sinh hoá, làm ôxy trong nguồn nước bị giảm. Trong lóp cặn lắng phía dưới diễn ra quá trình lên men, các chất khí như H2S, CH4… tạo thành, thoát ra xâm nhập vào trong nước, gây mùi và làm nổi váng bọt trên bề mặt. Cặn lắng còn làm giảm tiết diện miệng xả, thay đổi đáy sông hồ, cản trở dòng chảy,…
b) Chế độ ôxy trong sông hồ phía hạ lưu miệng xả thay đổi do quá trình tiêu thụ ôxy đểôxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ có trong nước thải
Nồng độ ôxy hoà tan là yếu tố giới hạn nên độ giảm của nó sẽ ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của hệ sinh thái sông hồ. Theo quy định của tiêu chuẩn môi trường TCVN 5942-1995, nồng độ ôxy hoà tan thấp nhất trong sông hồ là 4 mg//. Thời gian tính theo chiểu dòng chảy khi nồng độ ôxy trong nước sông hồ thấp nhất gọi là thời gian tới hạn. Tại thời điểm tới hạn, nguồn nước ô nhiễm nặng nhất. Thông thường trong tính toán xử lý nước thải, bảo vệ nguồn nước, thời gian này không được lớn hơn 2 ngày.
c) Hiện tượng phú dưỡng
Các nguyên tố dinh dưỡng có trong nước thải như nitơ (N), phốt pho (P), kali (K) và các chất khoáng khác… khi vào nguồn nước sẽ được phù du thực vật, nhất là các loại tảo lam, hấp thụ tạo nên sinh khối trong quá trình quang hợp. Sự phát triển đột ngột của tảo lam trong nguồn nước giàu chất dinh dưỡng làm cho nước có mùi và độ màu tăng lên, chế độ ôxy trong nguồn nước không ổn định. Hiện tượng này thường được gọi là hiện tượng nước nở hoa do phú dưỡng (eutrophication).
d) Vi khuẩn gây bệnh
Một số loại vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong nước thải khi ra sông hồ sẽ thích nghi dần và phát triển mạnh. Theo con đường nước nó sẽ gây bệnh dịch cho người và các động vật khác.
Quá trình ô nhiễm nước ngầm
a) Các nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm.
Các tầng chứa nước dưới đất (nước ngầm) có thể bị ô nhiễm do các nguyên nhân sau đây.
1. Khai thác nước ngầm
Khai thác nước ngầm là hoạt động kinh tế tác động mạnh mẽ và sâu sắc nhất đến nước ngầm. Khi khai thác nước ngầm đã tạo nên một phễu hạ thấp quanh các công trình khai thác và lôi cuốn nước ở xung quanh chảy đến công trình. Như vậy, khai thác nước ngầm có thể dẫn đến ô nhiễm nguồn nước theo các khía cạnh sau đây:
– Nhiễm bẩn do lôi cuốn nước có chất lượng kém hơn đến công trình, như xảy ra đối với trường hợp ô nhiễm sắt (Fe), amôn (NH4) ở phía Nam Hà Nội.
– Khai thác nước làm tăng sự vận động của nước, do vậy đẩy nhanh một số quá trình hoá lý làm cho nước bị ô nhiễm. Khi khai thác nước sẽ thay đổi tốc độ và trạng thái vận động, làm mất càn bằng ban đầu. Khi tốc độ vận động tăng sẽ đẩy nhanh quá trình hoà tan, rửa đất đá làm xáo trộn các lớp nước, sẽ gây ô nhiễm. Trường hợp này xảy ra đặc biệt nghiêm trọng khi khai thác nước ở các vùng có hang hốc karst mà trong đó chứa nhiều bùn. Ở đây khai thác nước thường dẫn đến nước bị đục do bùn bị khuấy động và cuốn vào công trình khai thác, nhiều lỗ khoan ngay từ khi thăm dò đã không thể đưa vào khai thác được vì nước đục, không đáp ứng yêu cầu. Dạng ô nhiễm bao gồm cả quá trình khai thác tạo điều kiện cho thấm xuyên của nước từ các tầng chứa nước phía trên có chất lượng xấu vào công trình lấy nước.
– Khai thác nước nhạt có thể dẫn đến tăng độ mặn của nước khi các công trình bố trí gần các biên mặn, hoặc nhạt hoá và giảm nhiệt độ ở các lỗ khoan khai thác nước khoáng là điển hình của phương thức ô nhiễm kiểu này.
– Khai thác nước ngầm làm giảm mực nước ngầm và có thê dẫn đến cạn kiệt nguồn nước. Tại Hà Nội do khai thác nước ngầm mà hiện nay mực nước ngầm nằm rất sâu, nếu không khai thác mực nước tầng chứa nước Pleixtocen nằm sát mặt đất nhưng hiện nay nhiều nơi mực nước của tầng chứa nước này cách mặt đến 30m. Mực nước hạ thấp đã tạo nên một phễu hạ thấp lớn.
Những tác động đến môi trường nước ngầm nêu trên lại tác động đến các yếu tố môi trường khác như làm biến dạng mặt đất ở những nơi khai thác nước ngầm quá lớn. Sự hạ thấp mực nước ngầm do khai thác còn có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái, những cây trồng phải mọc thêm rễ mới có thẻ hút được nước.
2. Khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là một trong các hoạt động kinh tế tác động mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất đến nước ngầm. Khi khai thác mỏ, đã làm cho nước ngầm ở một khu vực rộng lớn bị tháo khô, nước từ các nơi trong phạm vi phễu hạ thấp đều được lôi cuốn vào các moong hoặc các lò khai thác. Mặt khác, do đào trực tiếp vào các tầng chứa nước nên tạo điều kiện cho ôxy xâm nhập vào lòng đất dẫn đến quá trình ôxy hoá diễn ra mạnh mẽ hơn nhiều so với khai thác nước như đã nêu ở trên. Quá trình ôxy hoá đó làm cho hàm lượng S042 tăng lên, pH giảm đi cũng rất mạnh mẽ, nồng độ các vi nguyên tố tăng cao trong nước chảy ra từ các công trình khai thác. Mặt khác, các khu mỏ thường tạo nên một bãi thải đất đá rất lớn. Cũng như đã nêu, các đất đá thải này có nhiều sunphua kim loại, khi nước mưa thấm qua các bãi thải dẫn đến quá trình ôxy hoá xảy ra và nước trong các bãi thải có pH thấp, S042 cao, nồng độ các kim loại cao.
Do các tác động như trên nên nước ngầm ở các khu mỏ Quảng .Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn (Na Dương) và nhiều khu mỏ khác đã bị axit hoá. Các giếng nước của nhân dân xung quanh các khu bãi thải và một số moong khai thác đã không thể dùng được, phải dùng các nguồn nước khác. Trong tương lai không xa mỏ đồng Sin Quyền Lào Cai đưa vào khai thác cần phải có các biện pháp tích cực để giảm tác động đến nước dưới đất và đặc biệt chú ý xử lý nước thải từ mỏ và các nhà máy tuyển quặng để tránh ô nhiễm nước đầu nguồn sông Hồng.
3. Các hoạt động tạo các chất thải và đưa chất thải vào môi trường
Nhóm các hoạt động này bao gồm: các hoạt động công nghiệp, các khu đô thị và các hoạt động nông nghiệp.
– Ở các thành phố và khu công nghiệp, các hoạt động công nghiệp thường tạo ra lượng lớn nước thải, chất thải rắn và khí thải, trong đó có chứa nhiều thành phần có thể gây ô nhiễm nước ngầm. Hàng ngày, các thành phố, khu công nghiệp tạo ra hàng chục đến hàng trăm nghìn m3 nước thải. Hiện nay, hầu hết các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, khu dân cư, nước thải chưa được xử lý cục bộ đã đổ thải vào các kênh mương của thành phố và xả vào các khu trũng, đã gây ô nhiễm nghiêm trọng các sông, hồ, kênh mương.
– Một lượng lớn chất thải rắn tạo thành tại các thành phố, khu công nghiệp… Do mức độ thu gom rác thải còn thấp (50 – 80%) và sau đó lại đổ vào các hố trũng không dám bảo vệ sinh, nên trong quá trình phân huỷ, nhiều thành phần từ nước rác xâm nhập vào các tầng chứa nước. Tồn tại khá nhiều các bãi chôn lấp chất thải như thế này tại các thành phố lớn. Ngoài ra, các bãi tha ma, các nghĩa trang cũng là các đối tượng gây bẩn cho nước dưới đất. Khói, bụi phun ra từ các nhà máy, khu công nghiệp theo nước mưa rơi xuống có thể góp phần bổ sung các chất gây ô nhiễm nước dưới đất.
– Trong quá trình sản xuất nông nghiệp người ta sử dụng rộng rãi nhiều loại phân bón hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật khác nhau. Ớ những vùng chuyên canh cung cấp rau xanh cho các thành phố lớn, lượng phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật sử dụng trên một đơn vị diện tích cây trồng lớn gấp hàng chục lần so với mức độ sử dụng trung bình trên các đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ. Thêm vào đó để nâng cao năng suất cây trồng, việc tưới cây được đẩy mạnh, càng làm cho các hoá chất bảo vệ thực vật và phân bón dễ dàng ngấm xuống cung cấp cho nước ngầm, nhất là tầng chứa nước thứ nhất từ mặt đất xuống.
– Các hoạt động xây dựng tuy tạo ra chất thải không nhiều song lại có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng ô nhiễm nước dưới đất, vì các hoạt động xây dựng thường tạo ra các con đường lưu thông ở dưới sâu với trên mặt đất do việc khoan các lỗ khoan khảo sát địa chất công trình, xử lý nền móng, đào các công trình ngầm.
Bảng 4.7. Bảng tổng hợp các tác động của các hoạt động phát triển đến mỏi trường nước ngầm và các thông sô cần theo dõi

Qúa trình gây ô nhiễm nguồn nước 1

Qúa trình gây ô nhiễm nguồn nước 1

b) Các quá trình ô nhiễm nước ngẩm
1. Ô nhiễm từ mặt đất
Sự ô nhiễm do các hoạt động trên mặt đất rất đa dạng. Nước mặt bị ô nhiễm có thể thấm xuống tầng chứa nước bồi tích gần sông khi bơm hút từ các giếng nông cung cấp nước (hình 4.3).

Qúa trình gây ô nhiễm nguồn nước 1

2. Ố nhiễm phát sinh trên mực nước ngầm
Sự ô nhiễm nước do tác động của các nguồn hình thành trên mực nước ngầm (trong đới không bão hoà) có thể do các bãi chôn lấp rác không hợp vệ sinh, nghĩa địa, các cống thoát nước dò rỉ, các bể tự hoại, hố xí đào, giếng thấm và bãi lọc ngầm… gây nên.

 

Related Posts