admin

Tác hại của chất phóng xạ và tia phóng xạ đôi với con người

Lý thuyết xây dựng

Các tia phóng xạ có thể chiếu vào con người từ bên ngoài hoặc xâm nhập vào con người qua đường tiêu hóa, đường hô hấp. Cả hai hình thức chiếu xạ và xâm nhập này sẽ tác động đến máu, xương, các bộ phận của cơ thể, vì chúng đều gây nguy hiểm cho con người, song chiếu xạ từ bên trong cơ thể nguy hiểm hơn do thời gian chiếu xạ lâu hơn, diện chiếu xạ rộng hơn, loại bỏ chất phóng xạ ra ngoài khó khăn hơn. Những người nhiễm phóng xạ có thể do bị chiếu phóng xạ hoặc họ sống trong môi trường bị nhiễm phóng xạ. Bệnh nhiễm phóng xạ được chia thành nhiễm phóng xạ cấp tính và nhiễm phóng xạ mãn tính.
a) Bệnh nhiễm phóng xạ cấp tính
Khi bị liều phóng xạ trên 300 Rem (liều rơnghen tương đương) chiếu lên toàn thân trong thời gian ngắn (có khi chỉ từ vài gây đến vài giờ) có thể sẽ bị nhiễm bệnh phóng xạ cấp tính (ảnh hưởng sớm). Khi bị nhiễm bệnh phóng xạ cấp tính con người thường mắc các bệnh có các triệu chứng bệnh lý sau:
– Rối loạn hệ thần kinh trung ương (đặc biệt ở vỏ não) làm cho con người nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, hồi hộp, khó ngủ, kém ăn dẫn đến mệt mỏi, cáu kỉnh.
– Chỗ da bị tia phóng xạ chiếu qua bị bỏng hoặc tấy đỏ.
– Cơ quan tạo máu bị tổn thương, các tế bào máu ở ngoài và ở tủy xương sống bị giảm, bạch cầu và tiểu cầu cùng giảm, hồng cầu giảm chậm hơn dẫn đến bệnh nhân bị bệnh thiếu máu, giảm khả năng đề kháng với bệnh nhiễm trùng.
Tất cả nhũng triệu chứng trên làm cho người bệnh sút cân, gầy yếu dần dẫn đến suy nhược cơ thể hoặc nhiễm trùng nặng dẫn đến tử vong. Các sự cố ở các lò phản ứng hạt nhân trong các phòng thí nghiệm hay trong các nhà máy điện nguyên tử hoặc các vụ nổ và thử vũ khí hạt nhân là nguyên nhân chính gây bệnh phóng xạ cấp tính.
b) Bệnh nhiễm phỏng xạ mãn tính
Những người bị nhiễm liều lượng phóng xạ nhỏ thường xuyên và lâu dài hoặc những người bị chiếu liều phóng xạ khoảng 200 Rem trong thời gian ngắn sẽ có thê bị bệnh nhiễm phóng xạ mãn tính (ảnh hưởng muộn). Triệu chứng bệnh có thể xuất hiện muộn sau hàng năm hoặc có khi tới hàng chục năm sau. Bệnh nhân ban đầu bị suy nhược thần kinh; suy nhược cơ thể tiếp đến rối loạn các cơ quan tạo máu, rối loạn quá trình chuyển hóa đường, lipit, prôtít, muối khoáng dẫn tới bị thoái hóa. Bệnh nhân bị nhiễm phóng xạ mãn tính thường bị đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương…
Mức độ nặng hay nhẹ của bệnh nhiễm phóng xạ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
– Loại chất phóng xạ chiếu vào cơ thể.
– Tổng liều chiếu xạ và số lần chiếu xạ mà bệnh nhân gặp phải. Cần lưu ý khi tổng liều chiếu xạ như nhau nhưng nếu chiếu xạ nhiều liều nhỏ tác hại sẽ ít hơn khi chiếu liều cao một lần.
– Diện tích cơ thể bị nhiễu xạ càng rộng càng bị nguy hiểm. Chiếu xạ vào người ở những cơ quan quan trọng của cơ thể như đầu sẽ bị nguy hiểm nhiều hơn.
– Cơ thế’ khi đang bị mệt mỏi, đói bụng, bị nhiễm trùng, bị nhiễm độc, bị ung thư nếu bị chiếu phóng xạ thì ảnh hưởng của các tia phóng xạ đến cơ thể sẽ mạnh hơn.
Chất phóng xạ có đặc tính là luân chuyển qua lại trong các môi trường không khí, môi trường nưốc và môi trường đất nên dễ gây nhiễm xạ cho người, động vật và thực vật với những hậu quả khôn lường do vậy cần phải có giải pháp hạn chế và giảm ô nhiễm phóng xạ.
Để hạn chế và giảm ô nhiễm phóng xạ cần phải áp dụng đồng bộ các giải pháp hạn chế khai thác và sử dụng các chất phóng xạ:
– Hạn chế và tiến tới không sử dụng chất phóng xạ trong quân sự, đặc biệt là các loại vũ khí hạt nhân.
– Thực hiện chỉ sử dụng hạt nhân vì mục đích hòa bình như sử dụng hạt nhân để sản xuất điện năng.
– Các cơ sở sản xuất trong công nghiệp, nông-lâm nghiệp, giao thông vận tải, các cơ sở nghiên cứu khoa học khi sử dụng các chất phóng xạ phải thực hiện nghiêm ngặt quy định an toàn hạt nhân.
– Trong y học khi tiến hành chẩn doán và điều trị các bệnh nan y bằng các tia phóng xạ như tia Rơnghen, gama cũng như các đồng vị phóng xạ khác cần thực hiện đầy đủ các quy định sử dụng an toàn các chất phóng xạ trong y học.
Khi phải tiếp xúc với các nguồn phóng xạ cần áp dụng một số giải pháp hạn chế và giảm ô nhiễm phóng xạ.

Tác hại của chất phóng xạ và tia phóng xạ đôi với con người 1

a) Hạn chề và giảm ô nhiễm phóng xạ khi tiếp xúc với nguồn phóng xạ kín
Trong công nghiệp khi dùng tia y của chất co60 để kiểm tra vết nứt của kim loại hoặc trong y học dùng tia Rơnghen để chẩn đoán và điều trị bệnh… cần phải thực hiện các biện pháp sau:
– Khi dùng các bóng phát tia Rơnghen đã bọc bằng vỏ chì thì chỉ nên mớ cửa phát tia vừa đủ, không được mở quá rộng tránh phát tia phóng xạ ra các vùng xung quanh.
– Do cường độ chiếu xạ ở vùng làm việc tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ cơ thể người đến nguồn chiếu xạ nên thời gian chiếu xạ càng ngắn càng đỡ nguy hiểm.
– Xây dựng các buồng chiếu tia Rơnghen hoặc buồng sử dụng các tia phóng xạ đủ rộng. Buồng được bố trí ở nơi riêng biệt, xây dựng bằng các loại vật liệu có khả năng cản tia phóng xạ cao. Trong buồng hạn chế đặt nhiều đồ đạc nhằm hạn chế phát sinh các tia phóng xạ thứ cấp. Ớ các cửa ra vào bằng gỗ hoặc kính có khả năng cản tia bức xạ kém cần cấm người đứng, ngồi trước cửa.
– Đối với các nhân viên làm việc trong buồng phải mang trang bị bảo hộ lao động như mặc quần áp đúng quy định, mang găng tay, đi ủng cao su, mắt đeo kính. Khi thao tác các động tác phải nhanh nhẹn, chính xác để giảm thời gian tiếp xúc với phóng xạ.
b) Hạn chế và giảm ô nhiễm phóng xạ khi tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở
Những người tham gia thăm dò, khai thác, vận chuyển và chế biến các quặng phóng xạ và dung dịch, khí, pin phóng xạ vừa phải chịu tác dụng của các tia phóng xạ chiếu thẳng vào người lại còn có thể bị các chất phóng xạ ở thể khí, lỏng, rắn xàm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, đường tiêu hóa hoặc qua da gây hiện tượng nội chiếu rất nguy hiếm.
– Bảo vệ vật lý: bảo vệ vật lý là biện pháp sử dụng các phương tiện cản trở các tia phóng xạ (tương tự như đối với nguồn phóng xạ kín). Các phương tiện đó bao gồm:
• Bọc chì hoặc nhôm dày từ 2-3 mm các bóng phát tia Rơnghen.
• Người làm việc phải mặc quần áo và găng tay chì dày 0,3 – 0,5 mm. Người làm việc được ngăn cách với các chất phóng xạ nhờ một bức tường chắn bằng chì dày 1,5 – 2,0 mm. Phòng làm việc phải được ngăn bằng các bức tường đảm bảo các tia phóng xạ không sang các phòng bên cạnh. Tường có thể làm bằng chì, gạch hoặc bằng bê tông với chiều dày khác nhau phù hợp với công suất các máy phát tia và các loại tia khác nhau.
– Bảo vệ hóa học: những người tiếp xúc với các nguồn phóng xạ hở thường xuyên phái sử dụng axit amin có nhóm SH hoặc dùng các dẫn xuất phá hủy nhóm cacboxyl của chúng. Các chất nêu trên có tác dụng bảo vệ dựa vào cơ chế vai trò của ôxy trong chiếu xạ.
– Bảo vệ sinh học: Do các chất phóng xạ gây tác hại đến cơ thể những người tiếp xúc vì thế họ phải sử dụng các loại vitamin, các chất kháng sinh nhằm giúp tế bào tủy xương sinh huyết mau chóng, phục hồi cơ thể.
Các phòng thí nghiệm phóng xạ phải bố trí riêng biệt, chu vi bảo vệ từ 50 – 300m tùy theo lượng chất phóng xạ và tính chất phóng xạ của chúng. Diện tích làm việc tối thiểu phải đạt 4,7 nr/người.

Related Posts